Vào năm
1896, trong phòng thí nghiệm của nhà vật lý người Pháp là Becquerel xuất hiện
một sự kiện lạ: Một gói phim được bao bọc rất kỹ đột nhiên bị lộ sáng. Một bình
đựng hợp chất kẽm sunfua để trên bàn tự nhiên phát ra ánh sáng màu lục.
Nguyên nhân từ đâu?
Becquerel vội đi tìm hiểu
nguyên nhân, vất vả như tìm kim ở đáy biển. Cuối cùng ông đã tìm ra nguyên nhân
do một bình đựng hợp chất kết tinh màu vàng đặt ở trên bàn gây ra. Qua nghiên
cứu, Becquerel đã vén lên bức màn bí mật và phát biểu trong luận văn của ông:
Loại tinh thể màu vàng này chính là muối kali sunfat uranyl.
Đây là hợp chất có tính chất
là phóng ra các tia bức xạ không nhìn thấy có thể làm cho phim ảnh bị lộ sáng,
làm cho các chất phát quang phát sáng.
Những nghiên cứu của
Becquerel gây sự chú ý của bà Marie Curie. Bà đã cùng chồng là Piere Curie, sau
quá trình làm việc gian khổ, đến năm 1898 đã phát minh hai nguyên tố mới là
poloni và rađi là hai nguyên tố có tính phóng xạ còn mạnh hơn urani. Do đó
người ta gọi các nguyên tố urani, poloni, rađi là 3 nguyên tố tự nhiên phát ra
các tia bức xạ là các nguyên tố phóng xạ. Không lâu sau đó, người ta đã phát
hiện thêm nhiều nguyên tố phóng xạ tự nhiên và nguyên tố phóng xạ nhân tạo. Tuỳ
thuộc sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà các nguyên tố ngày càng được phát
hiện nhiều hơn.
Các bức xạ do các nguyên tố
phóng xạ phát ra hết sức nguy hiểm. Khi các tia phóng xạ có cường độ lớn quá
một mức nào đó sẽ giết chết tế bào, gây tổn hại cho cơ thể con người. Chính
Becquerel là người đầu tiên "bị vạ" do tia phóng xạ. Một hôm ông đi
giảng bài, bỏ quên một ống đựng rađi trong túi. Mấy ngày sau, tại đám da cọ xát
với ống chứa rađi phát ra các nốt mẩn đỏ là do các tia phóng xạ của rađi gây
bỏng da. Piere Curie trong quá trình tìm hiểu bí mật của nguyên tố phóng xạ đã
dùng ngón tay mình làm thí nghiệm: Ông để cho ngón tay chịu sự chiếu xạ của các
tia phóng xạ, ban đầu ngón tay phát đỏ sinh ra các nốt bỏng sau đó gây hoại tử,
phải chữa trị mấy tháng mới khỏi. Curie đã ghi chép cẩn thận sự kiện xảy ra.
Ngoài ra đi, ngày nay người
ta còn dùng Co - 60, iod - 132, photpho - 32 là những đồng vị phóng xạ để chữa
trị bệnh ung thư. Người ta còn dùng nguyên tố phóng xạ để làm nguyên tử đánh
dấu. Nếu cho uống hoặc tiêm một lượng nhỏ chất phóng xạ vào cơ thể, các tia bức
xạ sẽ xuyên qua các tổ chức mô của cơ thể. Nhờ đó mà thầy thuốc có thể biết nơi
nào của cơ thể có thể bị bệnh. Các chất phóng xạ không chỉ dùng trong chữa trị
bệnh mà còn dùng trong quá trình sản xuất. Ví dụ người ta dùng nguyên tố phóng
xạ để đo đạc trong luyện thép, nghiên cứu cấu trúc hợp kim, kiểm tra sự rò rỉ
của đường ống nước, tìm nước ngầm, v..v..
Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao
- Tri Thức Thế Kỉ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ Mới - Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt
Nam.
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"
Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất.
Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét