Tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử Hóa Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử Hóa Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Vài chuyện tức cười tại lễ kỉ niệm nguyên tố Flo

Năm 1986, tại Paris, các nhà hóa họ của nhiều nước đã họp nhau lại để kỉ niệm 100 năm ngày Henri Moissan (1852 – 1907), nhà hóa học Pháp khám phá ra khí flo tự do. Tại buổi lễ đã có nhiều người phát biểu, nhiều báo cáo khoa học được trình bày và thậm chí đã phát hành loại tem kỉ niệm.

Và cũng trong buổi lễ kỉ niệm đó đã diễn ra những chuyện tức cười. Nhà họa sĩ phác thảo mẫu tem đã quyết định trình bày trên con tem phát minh của Moissan. Thế nhưng trên con tem, họa sĩ đã trình bày không phải là phương trình phản ứng phân hủy điện hóa flohidric tinh khiết để tạo khí flo tự do do Moissan tìm ra mà là phương trình của phản ứng ngược lại với nó. Hóa ra là người ta đã kỉ niệm nhà hóa học xuất chúng người Pháp đã phát minh ra sự tương tác giữa flo và hidro.


M.Gutlitski, báo cáo viên người Mỹ, đã gây ra một chuyện tức cười khác. Ông đã chứng minh rằng khí flo được tìm thấy không phải vào năm 1886 mà là vào năm 1881. Người phát minh ra nó không phải là Moissan mà là Bohuslay Brauner, nhà hóa học Tiệp Khắc. Brauner đã xác định được rằng khi đốt nóng CeF4 (do ông tìm ra dưới dạng đihiđrat) sẽ tạo ra hơi nước, HF và một chất khí khác có mùi hăng...

Theo M.Gutlitski, cùng với một số thí nghiệm khác. Brauner đã chứng minh được rằng hỗn hợp khí đó có bao hàm khí flo tự do, sau khi công bố các kết quả thí nghiệm của mình trên các tạp chí hóa học có uy tín nhất. Quả thật, Brauner cũng có dè dặt khi tuyên bố rằng mình đã phát minh nguyên tố thứ 9. Báo cáo viên đã đưa ra một câu hỏi: Phải chăng đó là cơ sở để phủ nhận quyền ưu tiên của Brauner.

Không nên nghĩ rằng sau bản báo cáo đó, những người tổ chức buổi lễ đã nản chí và tuyên bố giải tán hội nghị. Ở phòng bên, cạnh phòng họp có bán một tuyển tập “Kỉ niệm 100 năm đầu tiên ngày tìm ra khí flo”. Trong tuyển tập đã nói rõ: Sự thận trọng của Brauner là đúng. Sau ông, nhiều người đã lặp lại thí nghiệm trên nhưng không ai tìm ra được khí flo tự do trong hỗn hợp được tạo nên.

Trích: 17 mẫu chuyện Hóa Học hài hước
---NHT---
Share:

Muối Iot

Để cơ thể khoẻ mạnh, con người cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố hoá học cần thiết. Có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng lớn và có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng nhỏ (vi lượng). Iot là một nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết đối với con người. Theo các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ 1.10-4 đến 2.10-4 gam nguyên tố iot.
Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dươi dạng hợp chất của iot có sẵn trong muối ăn và một số loại thực phẩm. Nhưng việc thiếu hụt iot vẫn thường xảy ra. Hiện nay, tính trên toàn thế giới một phần ba số dân bị thiếu iot trong cơ thể. Ở Việt Nam, theo điều tra mới nhất, 94% số dân thiếu hụt iot ở những mức độ khác nhau.
Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai hại. Thiếu iot làm não bị hư hại nên người ta trở nên đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây ra bệnh bướu cổ và hàng loạt rối loạn khác, đặc biệt nguy hiểm đối với bà mẹ và trẻ em.


Để khắc phục sự thiếu hụt iot, người ta phải cho them hợp chất của iot vào thực phẩm như: muối ăn, sữa, kẹo…
Việc dùng muối ăn làm phương tiện chuyển tải iot vào cơ thể người được nhiều nước áp dụng.
Muối iot là muối ăn có trộn them một lượng nhỏ hợp chất của iot (thường là KI hoặc KIO3). Thí dụ : Trộn 25 kg KI vào một tấn muối ăn.
Người ta cũng cho thêm hợp chất iot vào bột canh, nước mắm…
Việc dùng muối iot thật dễ dàng và đơn giản. Về mùi vị, màu sắc, muối iot không khác gì muối ăn thường. Tuy nhiên hợp chất iot có thể bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Vì vậy phải thêm muối iot sau khi thực phẩm đã được nấu chín.
---NHT---
Share:

Lịch sử khám phá ra nguyên tố Hidro

Lịch sử hóa học ghi nhận rằng Hiđro được tìm ra năm 1766 và nhà vật lí kiêm hóa học Anh H. Cavendish được công nhận là người tìm ra nguyên tố này.


Thật ra trước đó đã có một số nhà bác học (Bôi, Lêmêri, Lômônôxôp) biết đến khí này.
Chẳng hạn, Lômônôxôp năm 1745 đã nhận xét rằng khi hòa tan kim loại trong axit thường ở miệng bình có hơi cháy được bay ra. Chịu ảnh hưởng của “thuyết nhiên tố” nên nhà bác học Nga gọi hơi đó là nhiên tố.
Cũng như Blec, tất cả những thí nghiệm của Cavendish đều có tính chất định lượng. Ông luôn luôn cân khối lượng các chất và đo thể tích của chúng, lấy nguyên lí bảo toàn khối lượng làm căn cứ để so sánh. Công trình đầu tiên của ông về hóa học các chất khí được công bố năm 1766, trong đó ông mô tả các phương pháp điều chế và tính chất Hiđro mà ông gọi là “không khí cháy”.
Theo ông, có những chất khí nặng hơn không khí thường gấp 1,5 lần như “không khí gỗ” hay “không khí liên kết” và có chất khí cháy được.


Theo quan niệm thời bấy giờ, than (Cacbon) có chứa nhiều “nhiên tố” hơn là kim loại, bởi vì khi than cháy chỉ còn lại một tí tro, “không khí cháy” khi cháy không còn để lại một tí gì cả, vì vậy Cavendish xem “không khí cháy” là “nhiên tố tinh khiết”.
Theo quan điểm của nhà bác học Anh, Hiđro không có trong axit mà có trong kim loại. Nhiệm vụ của axit là đẩy nhiên tố tinh khiết ra khỏi kim loại, tương tự như axit đẩy khí cacbonic ra khỏi đá vôi.
Qua đó chúng ta thấy thuyết nhiên tố đã gây phiền hà, rắc rối như thế nào! Ngày nay, chúng ta hiểu đơn giản rằng nguyên tố Hiđro có trong thành phần của axit. Khi kim loại tác dụng với axit thì kim loại đã thay thế vị trí của Hiđro và đẩy Hiđro ra ngoài.
Ví dụ: Zn + 2 HCl ----> ZnCl2 + H2
Tuy là một người suốt đời rất ngoan đạo đối với thuyết nhiên tố, nhưng tài năng thực nghiệm của ông lại không ngoan đạo như vậy. Thuyết nhiên tố thừa nhận nhiên tố có khối lượng âm, nhưng bằng cách đo tỉ khối của Hiđro (so với không khí) ông đã tìm thấy khối lượng dương và bằng 0,09.
Về tính chất của khí Hiđro, nhà bác học Anh nhận thấy nó không tan trong nước và trong kiềm. Ông cũng quan sát thấy rằng khi trộn Hiđro với không khí và bật tia lửa điện thì xảy ra hiện tượng nổ. Đến năm 1781, Cavendish đã làm thí nghiệm đốt cháy Hiđro và nhận thấy sản phẩm cháy là nước.
Ra đời năm 1766, Hiđro luôn luôn mang cái tên cúng cơm của nó là “không khí cháy” cho đến năm 1779. Lúc này thành phần của nước đã được xác định. Lavoadiê đề nghị đặt tên cho chất khí này theo tiếng La Tinh là Hidrogenium, vậy từ hai chữ Hy Lạp hydr và gennas có nghĩa là “tạo ra nước”. Kí hiệu H do nhà hóa học Thụy Điển J. Berzelius đề nghị.

Trong một thời gian dài, nhiều nhà bác học không tin tưởng rằng một nguyên tố nhẹ như Hiđro có thể có đồng vị. Thực tế Hiđro còn có hai đồng vị. Đồng vị Đơteri, kí hiệu hóa học là D được tìm ra năm 1932 khi cho bay hơi Hidro lỏng, và năm 1944 tìm được trong không khí đồng vị Triti có tính phóng xạ, kí hiệu hóa học là T, được tìm ra năm 1934. Hai đồng vị nặng này chỉ chiếm 0,01% trong tổng số nguyên tử Hiđro, nhưng lại là rất quan trọng trong tương lai. Theo dự báo của các nhà khoa học, trong vòng 20 đến 30 năm tới, chúng sẽ là nguồn năng lượng vô tận của con người.


Nguyên tắc chung của những nguyên tử đồng vị của cùng một nguyên tố là chúng giống nhau về tính chất vật lí và hóa học. Những đồng vị của nguyên tố Hiđro là duy nhất có nhiều ngoại lệ! Có lẽ vì thế mà mỗi đồng vị có kí hiệu hóa học riêng (H, D và T).
Bản thân nguyên tố Hiđro cũng là một ngoại lệ, hiểu theo nghĩa, nó chưa có vị trí yên ổn trong bảng HTTH. Nhiều nhà hóa học muốn sắp xếp nó cùng nhóm với họ halogen, một số người khác muốn đặt nó cùng nhóm với họ kim loại kiềm.
Thật là “thân này ví xẻ làm đôi được”.
--------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: Internet

Share:

Câu chuyện: Phát hiện chất nổ Hóa Học có sức công phá mạnh gấp 7 lần TNT


Từ một tai nạn ở phòng thí nghiệm Munich (Đức), các nhà khoa học tình cờ phát hiện ra khả năng giải phóng năng lượng của bọt silic. Sau nhiều năm nghiên cứu, họ kết luận chất bọt này có sức công phá gấp 7 lần TNT.

Cách đây 3 năm, tại phòng thí nghiệm ở Munich, người ta chỉ tìm hiểu tính phản quang của bọt Si. Để tránh hiện tượng oxi hóa, mẫu thử được đặt trong môi trường chân không, sau đó người ta hạ thấp nhiệt độ xuống –1800C. Nhưng do một sự rò rỉ, oxi lọt vào bên trong và ngay lập tức chuyển thành thể lỏng bám lên trên bề mặt bọt Si tạo ra một chuỗi phản ứng hóa học dẫn đến sự bùng cháy. “Đó là một tiếng nổ long trời lở đất. Thoạt tiên chúng tôi không làm gì cả, may mà lúc đó không có ai trong phòng thí nghiệm” – Kovalev kể lại.


Sau khi phát hiện thủ phạm chính của vụ nổ là bọt Si, nhóm các nhà khoa học đã lập lại thí nghiệm trên nhiều lần. Theo Kovalev, mẫu thử Si sở dĩ có khả năng bùng phát mạnh như vậy vì hai nguyên nhân: Thứ nhất nhờ cấu trúc “bọt” nên nó có bề mặt tiếp xúc cực rộng, thứ hai ở môi trường nhiệt độ -1800C, oxi hóa lỏng nên khả năng tiếp xúc với bề mặt của bọt Si tốt hơn và toàn diện hơn oxi ở thể khí. Vì vậy chỉ trong 1 phần triệu giây, mẫu vật có thể bị đốt cháy hoàn toàn giải phóng ra năng lượng vô cùng lớn.

“Bọt Si hoàn toàn không nguy hiểm, để có thể bùng nổ phải có những điều kiện đặc biệt nên nó rất an toàn trong điều kiện thường” – Kovalev nói.

Hiện giới khoa học đã công nhận kết quả của Kovalev. Tuy nhiên làm thế nào để sử dụng nguồn năng lượng tiềm ẩn trong Si lại là cả một vấn đề. Nhà vật lý Leigh Canham (Mỹ) đã thành lập một phòng thí nghiệm riêng để nghiên cứu chất nổ theo gương Alfred Nobel. Mới đây trên tờ Scientist, ông tuyên bố rằng tương lai sẽ có nhiều vệ tinh chạy bằng Si. Tuy nhiên các đồng nghiệp tỏ ra nghi ngờ giấc mơ này của ông. Họ thừa nhận rằng, trong đám bọt Si có rất nhiều năng lượng nhưng để giải phóng nó người ta cần nhiệt độ là – 1800C. Mà điều này hoàn toàn không đơn giản khi đưa vào thực tế
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"
Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Phát minh từ trong đống sắt gỉ


Thời kỳ chiến tranh lần thứ nhất, nhà khoa học Anh là Brearley được giao nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến vũ khí, đặc biệt là vấn đề các nòng súng bị mài mòn rất nhanh. Brearley cố nghĩ cách chế ra hợp kim không dễ mài mòn để chế tạo súng. Năm 1913, ông đã thử pha crom vào thép, song chưa vừa ý vì lí do nào đó, bèn quẳng mẫu thử lẫn vào đống sắt gỉ ngoài phòng thí nghiệm

Rất lâu sau, tình cờ Brearley nhận thấy mẫu thử ấy vẫn sáng long lanh trong khi đống thép gỉ hết cả. Ông đem mẫu này nghiên cứu tỉ mỉ, thấy thứ thép pha crom này chẳng hề sợ môi trường, khí hậu hay thời tiết nào, ngay cả khi ngâm vào axit và kiềm!

Năm 1913, Brearley đã được nhận bằng phát minh độc quyền của nước Anh. Ông đã tổ chức sản xuất thép không gỉ ở quy mô lớn và thực sự trở thành “người cha của thép không gỉ”.


Câu chuyện này hẳn đặt ra một điều suy nghĩ: Gặp những điều kì dị nào đó thì cũng chẳng nên lơ đãng bỏ qua mà nên tự hỏi “vì sao thế” để rồi tìm ra căn nguyên của nó.

Đã biết bao nhiêu phát minh của thế giới đã hình thành như thế đó!

Trích từ: 17 mẫu chuyện Hóa Học hài hước
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Khám phá ra định luật bảo toàn khối lượng


Định luật bảo toàn khối lượng được hai nhà khoa học Mikhail Vasilyevich Lomonosov và Antoine Lavoisier khám phá độc lập với nhau qua những thí nghiệm được cân đo chính xác, từ đó phát hiện ra định luật bảo toàn khối lượng.
Năm 1748, nhà hóa học người Nga Mikhail Vasilyevich Lomonosov đặt ra định đề.
Năm 1789, nhà hóa học người Pháp Antoine Lavoisier phát biểu định luật này.

Khi cân bình nút kín đựng bột kim loại trước và sau khi nung, M.V.Lomonosov nhận thấy rằng khối lượng của chúng không thay đổi, mặc dù những chuyển hoá hoá học đã xảy ra với kim loại trong bình. Khi áp dụng các phương pháp định lượng nghiên cứu phản ứng hoá học, năm 1748 Lomonosov đã tìm định luật quan trọng này. Lomonosov trình bày định luật như sau: "Tất cả những biến đổi xảy ra trong tự nhiên thực chất là nếu lấy đi bao nhiêu ở vật thể này, thì có bấy nhiêu được thêm vào ở vật thể khác. Như vậy, nếu ở đây giảm đi bao nhiêu vật chất, thì sẽ có từng ấy vật chất tăng lên ở chỗ khác".
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Bài đăng phổ biến

Bản quyền thuộc HÓA HỌC. Được tạo bởi Blogger.

Fanpage HÓA HỌC

Fanpage HÓA HỌC
Nhấp vào hình ảnh để chuyển đến trang Fanpage

Liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Bài viết gần đây

Các Trang