Tìm kiếm

Phát minh từ trong đống sắt gỉ


Thời kỳ chiến tranh lần thứ nhất, nhà khoa học Anh là Brearley được giao nhiệm vụ nghiên cứu cải tiến vũ khí, đặc biệt là vấn đề các nòng súng bị mài mòn rất nhanh. Brearley cố nghĩ cách chế ra hợp kim không dễ mài mòn để chế tạo súng. Năm 1913, ông đã thử pha crom vào thép, song chưa vừa ý vì lí do nào đó, bèn quẳng mẫu thử lẫn vào đống sắt gỉ ngoài phòng thí nghiệm

Rất lâu sau, tình cờ Brearley nhận thấy mẫu thử ấy vẫn sáng long lanh trong khi đống thép gỉ hết cả. Ông đem mẫu này nghiên cứu tỉ mỉ, thấy thứ thép pha crom này chẳng hề sợ môi trường, khí hậu hay thời tiết nào, ngay cả khi ngâm vào axit và kiềm!

Năm 1913, Brearley đã được nhận bằng phát minh độc quyền của nước Anh. Ông đã tổ chức sản xuất thép không gỉ ở quy mô lớn và thực sự trở thành “người cha của thép không gỉ”.


Câu chuyện này hẳn đặt ra một điều suy nghĩ: Gặp những điều kì dị nào đó thì cũng chẳng nên lơ đãng bỏ qua mà nên tự hỏi “vì sao thế” để rồi tìm ra căn nguyên của nó.

Đã biết bao nhiêu phát minh của thế giới đã hình thành như thế đó!

Trích từ: 17 mẫu chuyện Hóa Học hài hước
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:


Share:

Vì sao nước lại không cháy ?


Đặt ra câu hỏi này có vẻ hơi thừa. Nước không cháy , ai chả biết. Thế nhưng tại sao nước không cháy, quả là câu hỏi không dễ trả lời.

Để giải đáp rõ ràng câu hỏi này , trước hết ta phải hiểu sự cháy là gì?

Thông thường thì sự cháy là phản ứng hoá học của các chất với oxy . Có những chất ngay ở nhiệt độ thường, cũng bốc cháy khi gặp oxy. Photpho trắng là một ví dụ. Lại có những chất như than đá (thành phần chủ yếu là cacbon), hyđro, lưu huỳnh, ở nhiệt độ thường khi tiếp xúc oxy không hề có phản ứng, nhưng khi tăng cao nhiệt độ thì chúng sẽ bốc cháy .

Trông bên ngoài thì rượu, xăng, dầu hoả, nước đều là những chất lỏng trong suốt, rất giống nhau. Thế nhưng rượu là do ba nguyên tố cacbon, hyđro, oxy , còn xăng, dầu hoả là do hai nguyên tố cacbon, hyđro tạo thành. Đại bộ phận các chất chứa cacbon đều có thể cháy được. Rượu, xăng, dầu hoả có 1 nguyên tử cacbon kết hợp với hai nguyên tử oxy thành phân tử cacbon đioxit. Còn các nguyên tử hyđro lại kết hợp với oxy thành phân tử nước và do đó các hợp chất nói trên đều cháy sạch.

Đến đây chắc các bạn đều đã rõ tại sao nước lại không cháy . Nước là do hai nguyên tố hyđro và oxy tạo nên, là do kết quả sự cháy của nguyên tố hyđro. Đã là sản phẩm của sự cháy nên đương nhiên nó không có thể có khả năng lại tiếp tục kết hợp với oxy hay nói cách khác nó không thể lại cháy một lần nữa. Cùng với lý luận tương tự, cacbon đioxit là sản phẩm cuối cùng của sự cháy nên cacbon đioxit không thể cháy được nữa. Do cacbon đioxit không tiếp dưỡng được sự cháy, lại có tỷ trọng nặng hơn không khí, nên người ta dùng cacbon đioxit để dập lửa.
Đương nhiên cũng không ít loại vật chất không thể hoá hợp với oxy cho dù có đưa nhiệt độ lên cao đến mấy đi nữa thì chúng cũng chỉ là "bạn tốt" của oxy . Các loại vật chất này là những chất không cháy được.

Trích: Mười Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Tri Thức Thế Kỷ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ Mới - Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Vì sao có thể dự đoán các nguyên tố còn chưa tìm thấy ?


Vào năm 1886, một nhà hoá học người Đức là Winkler đã tìm thấy một nguyên tố mới là nguyên tố Gecmani (Ge). Ông đã dự đoán các số liệu thực nghiệm sau đây:

1. Khối lượng nguyên tử 72,5
2. Tỷ trọng 5,47
3. Không hoà tan trong axit clohydric
4. Oxit của nguyên tố này có công thức GeO2
5. Tỷ trọng của oxit là 4,70
6. Trong dòng khí hyđro đốt nóng, GeO2 bị khử thành kim loại Ge
7. Ge(OH)2 có tính kiềm yếu
8. GeCl4 là chất lỏng, nhiệt độ sôi ts = 83°C, tỷ trọng 1,887

Có điều kỳ lạ là ngay từ năm 1871, lúc còn chưa ai biết đến nguyên tố này, nhà hoá học Nga Menđeleev đã dự đoán hết sức chính xác về tính chất, đặc điểm của nguyên tố Gecmani này. Menđeleev đã đưa ra các lời dự đoán về nguyên tố còn chưa biết như sau:

1. Khối lượng nguyên tử 72
2. Tỷ trọng 5,5
3. Là kim loại không tan trong axit clohydric
4. Oxit của kim loại có công thức MO2 (bấy giờ nguyên tố gecmani còn chưa được phát hiện nên người ta dùng chữ M để biểu diễn nguyên tố mới)
5. Oxit có tỷ trọng 4,7
6. Oxit của kim loại dễ dàng bị khử để cho kim loại.
7. Oxit của kim loại có tính kiềm rất yếu
8. Clorua của kim loại có công thức MCl4 là chất lỏng, có nhiệt độ sôi 90°C. Tỷ trọng của chất lỏng này bằng 1,9.



Các bạn thử so sánh dự đoán của Menđeleev và các số liệu thực nghiệm do Winkler công bố, bạn đã thấy các dự đoán của Menđeleev quả là rất chính xác. Lời dự đoán của Menđeleev không phải là "nhắm mắt nói mò" mà ông đã dùng một phương pháp suy luận, phán đoán hết sức khoa học, hết sức chặt chẽ.

Từ trước khi có các dự báo của Menđeleev nhiều nhà hoá học đã kế tiếp nhau phát hiện nhiều nguyên tố và đã phát hiện được hơn 60 nguyên tố. Thế nhưng liệu có bao nhiêu nguyên tố tất cả thì chưa có ai trả lời được. Để giải đáp câu hỏi này, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu tìm hiểu liệu có quy luật nào giữa các nguyên tố hay không? Có người dựa theo các tính chất vật lý của các nguy ên tố như điểm nóng chảy, điểm sôi, màu sắc, trạng thái, tỷ trọng, độ cứng, tính dẫn điện, dẫn nhiệt… để phân loại. Có người dựa theo tính chất hoá học, hoá trị, tính axit, tính kiềm để phân loại, thế nhưng chưa có ai tìm được quy luật.

Trong khi học tập người đi trước, Menđeleev đã tổng kết các kinh nghiệm của người đi trước, ông đã quyết định dùng một phương pháp mới: Ông đã dùng các thuộc tính vốn có của các nguyên tố không chịu ảnh hưởng của các điều kiện ngoại cảnh như khối lượng nguyên tử, hoá trị làm cơ sở để tìm mối liên hệ nội tại giữa các nguyên tố.

Trước tiên Menđeleev đã chọn khối lượng nguyên tử và hoá trị để tiến hành phân tích và đã cải chính khối lượng nguyên tử của 8 nguyên tố là Be, In, U, Os, Ir, Pt, Y v à Ti mà những sai lầm về khối lượng này đã được mọi người ngộ nhận trong một thời gian dài.

Menđeleev đã tổng hợp các đặc tính của các nguyên tố, phát hiện được quy luật tuần hoàn của các nguyên tố, dùng quy luật biến đổi tuần hoàn để sắp xếp các nguyên tố thành bảng tuần hoàn các nguyên tố. Các vị trí tương ứng trên bảng tuần hoàn dù đã có các nguyên tố hay còn chưa có các nguyên tố, thì vị trí của bản thân nguyên tố cũng nêu đủ toàn bộ tính chất của nguyên tố. Dự đoán chính xác của Menđeleev về Gecmani dựa vào: nguyên tố đứng bên trái Ge là Gali có khối lượng nguyên tử là 69,72; nguyên tố Asen ở bên phải có khối lượng 74,92; nguyên tố đứng trên là Silic có khối lượng nguyên tử 28,08; nguyên tố đứng phía dưới là thiếc Sn có khối lượng nguyên tử là 118,6. Trung bình cộng của 4 nguyên tố trái, phải, trên, dưới của các khối lượng nguyên tử là 72,86. Sau này rõ ràng Ge có khối lượng nguy ên tử là 72,61 . Đó không phải là ngẫu nhiên mà là có tính quy luật. Dựa vào cùng một phương pháp, Menđeleev cho dự đoán của 3 nguyên tố khác. Chỉ trong vòng 20 năm, các nguyên tố này dần dần được phát hiện mà các tính chất của các nguyên tố này thực tế lại hết sức phù hợp với dự đoán.

Việc phát hiện quy luật thay đổi tuần hoàn của các nguyên tố hoá học không chỉ kết thúc sự cô lập của các nguyên tố, kết thúc trạng thái hỗn loạn mà đã đem lại cho người ta một nhãn quan khoa học nhận thức quy luật nội bộ tự nhiên của các nguyên tố.

📖 Trích: 10 vạn câu hỏi vì sao - Tri thức thế kỉ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ mới - Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Khám phá ra định luật bảo toàn khối lượng


Định luật bảo toàn khối lượng được hai nhà khoa học Mikhail Vasilyevich Lomonosov và Antoine Lavoisier khám phá độc lập với nhau qua những thí nghiệm được cân đo chính xác, từ đó phát hiện ra định luật bảo toàn khối lượng.
Năm 1748, nhà hóa học người Nga Mikhail Vasilyevich Lomonosov đặt ra định đề.
Năm 1789, nhà hóa học người Pháp Antoine Lavoisier phát biểu định luật này.

Khi cân bình nút kín đựng bột kim loại trước và sau khi nung, M.V.Lomonosov nhận thấy rằng khối lượng của chúng không thay đổi, mặc dù những chuyển hoá hoá học đã xảy ra với kim loại trong bình. Khi áp dụng các phương pháp định lượng nghiên cứu phản ứng hoá học, năm 1748 Lomonosov đã tìm định luật quan trọng này. Lomonosov trình bày định luật như sau: "Tất cả những biến đổi xảy ra trong tự nhiên thực chất là nếu lấy đi bao nhiêu ở vật thể này, thì có bấy nhiêu được thêm vào ở vật thể khác. Như vậy, nếu ở đây giảm đi bao nhiêu vật chất, thì sẽ có từng ấy vật chất tăng lên ở chỗ khác".
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Tìm hiểu về Isoamyl acetat


Nếu bạn là một người yêu thích đồ ngọt, chắc hẳn bạn không thể bỏ qua những món chè hấp dẫn thơm ngon bổ dưỡng có vị béo béo thơm thơm. Liệu bạn có biết rằng hương vị thơm ngon ấy của chè là nhờ vào bí quyết gì? Một trong những hương liệu được người chế biến thêm vào để dậy mùi thức ăn đó chính là dầu chuối. Dầu chuối hay còn gọi là Isoamyl acetat.


Isoamyl acetat có CTPT là C7H14O2 là hợp chất hữu cơ có nguồn gốc ester. Isoamyl acetat là một chất lỏng không màu, có mùi mạnh tương tự như mùi chuối và lê, rất khó hòa tan trong nước nhưng hòa tan mạnh trong hầu hết các dung môi hữu cơ. Tên gọi khác: isopentyl acetat, dầu chuối. Dầu chuối là khái niệm dùng cho cả isoamyl acetat tinh khiết và các hương liệu từ hỗn hợp của isoamyl acetat, amyl acetat và các hương liệu khác. Trong tự nhiên, ta có thể dễ dàng thu được dầu chuối bằng cách chiết xuất từ cây chuối. Ngoài ra, Ong mật cũng có thể phát ra isoamyl acetat
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Ứng dụng của bột Magie cacbonat trong thể thao


Bột MgCO3 có tên gọi là bột magie cacbonat mà người ta vẫn hay gọi là "bột magie". Loại bột này màu trắng, rất mịn và nhẹ, có tác dụng hút ẩm rất tốt. Khi tiến hành một trận thi đấu, bàn tay các vận động viên thường có nhiều mồ hôi. Điều đó đối với các vận động viên thể thao rất bất lợi. Khi có nhiều mồ hôi ở bàn tay sẽ làm giảm độ ma sát, khiến các vận động viên sẽ không nắm chắc được các dụng cụ thi đấu. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến thành tích mà nó còn gây ra nhiều sự nguy hiểm khi trình diễn.

Magie cacbonat (MgCO3) có tác dụng hấp thụ mồ hôi, đồng thời tăng cường độ ma sát giữa bàn tay với các dụng cụ thể thao, giúp các vận động viên có thể nắm chắc dụng cụ và thực hiện các động tác chuẩn xác hơn, giảm thiểu rủi ro tai nạn khi trình diễn từ đó tạo điều kiện để các vận động viên đạt được thành tích tốt nhất có thể.
-------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất

Share:

Bài đăng phổ biến

Bản quyền thuộc HÓA HỌC. Được tạo bởi Blogger.

Fanpage HÓA HỌC

Fanpage HÓA HỌC
Nhấp vào hình ảnh để chuyển đến trang Fanpage

Liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Bài viết gần đây

Các Trang