-
Câu chuyện lịch sử Hóa Học
Nơi những giai thoại về hóa học sống lại
-
Hóa Vô Cơ - Hóa Hữu Cơ
Sắc màu hóa học khơi nguyên, hai mảng với những nét riêng nhưng lại không tách rời nhau
-
10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Giải Đáp Hóa Học
Nơi những thắc mắc, hoài nghi về khoa học và hóa học được giải đáp
-
Hóa Ứng Dụng - Thí Nghiệm
Nơi có thể tìm hiểu thêm nhiều về ứng dụng hóa học và các thí nghiệm bổ ích
-
Hóa Học Nhà Trường và luyện thi THPTQG
Nơi những kiến thức trung học phổ thông quốc gia được chia sẻ
Tìm hiểu về những ứng dụng của nguyên tố Lithium (Li)
Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về Lithium (Li), một trong những nguyên tố đang làm thay đổi rất lớn trong sản xuất các loại lưu trữ năng lượng (pin) và nhiều ứng dụng của nó:
+ Việc sử dụng lithium quan trọng nhất là trong pin sạc cho điện thoại di động, máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số và xe điện. Lithium cũng được sử dụng trong một số loại pin không sạc được cho những thứ như máy trợ tim, đồ chơi và đồng hồ.
+ Kim loại lithium được chế tạo thành hợp kim với aluminium (Al) và magnesium (Mg), cải thiện khả năng bền của chúng và làm cho chúng nhẹ hơn. Một hợp kim magnesium - lithium được sử dụng để mạ áo giáp. Hợp kim aluminium - lithium được sử dụng trong máy bay, khung xe đạp và tàu cao tốc.
+ Lithium oxide (Li2O) được sử dụng trong kính đặc biệt và gốm thủy tinh. Lithium chloride (LiCl) là một trong những vật liệu hút ẩm nhất được biết đến, và được sử dụng trong điều hòa không khí và hệ thống sấy công nghiệp (cũng như lithium bromide). Lithium stearate được sử dụng như một chất bôi trơn đa năng và nhiệt độ cao.
+ Lithium carbonate (Li2CO3) được sử dụng trong các loại thuốc để điều trị trầm cảm hưng cảm, mặc dù hành động của nó đối với não vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Lithium hydride được sử dụng như một phương tiện lưu trữ hydro để sử dụng làm nhiên liệu.
+ Trong hóa học: LiAlH4 là Lithium aluminium hydride, là một chất khử mạnh. Các nhà khoa học Finholt, Bond và Schlesinger lần đầu tiên phát hiện ra hợp chất này vào năm 1947. Hơn nữa, có nhiều ứng dụng của hợp chất này trong các quá trình tổng hợp hữu cơ. Nó phản ứng dữ dội với nước, dẫn đến giải phóng khí hydrogen (H2).
--TH--
Loại hợp chất cao phân tử thiên nhiên nào bền vững nhất?
Các loại vật liệu trong tự nhiên như bông, lanh, tơ, tre, len, cao su… đều là những cao phân tử thiên nhiên, phân tử của chúng có kích thước rất lớn, rất dài. Các hợp chất cao phân tử thường không tan trong nước, có độ bền cơ học tốt, có tính cách điện, có tính bền mài mòn. Ngoài ra các hợp chất cao phân tử thường có cấu trúc sợi, tỷ lệ của độ dài so với bán kính của phân tử rất lớn, lớn hơn 1000. Các hợp chất cao phân tử có độ dẻo, có tính đàn hồi tốt. Từ thời xa xưa, loài người đã biết sử dụng nhiều loại hợp chất cao phân tử tự nhiên làm vật liệu dệt đan lưới, làm giấy, sản xuất keo dán…và nhiều vật dụng trong cuộc sống hằng ngày.
Trong tự nhiên có rất nhiều loại hợp chất cao phân tử. Thế nhưng loại hợp chất cao phân tử tự nhiên nào là bền nhất Các nhà sinh vật học đã tiến hành nhiều thí nghiệm về vấn đề này . Nhiều thực nghiệm đã chứng minh loại tơ do nhện nhả ra là loại hợp chất cao phân tử có độ bền cao nhất. Độ bền của tơ nhện gấp 5 lần độ bền của sợi thép có cùng kích thước. Tơ nhện là dạng hợp chất cao phân tử do các protein dạng axit amin tạo nên.
Loài nhện đã dùng lưới tơ do chúng nhả ra có thể bắt giữ nhiều loại côn trùng khoẻ hơn chúng nhiều lần. Tơ nhện không chỉ bền mà còn có độ dính bám đặc thù. Do tơ nhện có nhiều tính năng ưu việt nên được nhiều nhà khoa học hết sức quan tâm. Tờ báo nước Anh, tờ "Lưu thông tiền tệ" số 3-11-1988 có đăng bài báo về việc nghiên cứu tơ nhện. Bài báo nêu lên ý kiến: Tơ nhện là hợp chất cao phân tử tự nhiên có độ bền vững rất cao, nếu đi sâu nghiên cứu sẽ có thể tạo được loại vật liệu mới, quý giá. Ở Nhật Bản có thành lập "Hiệp hội tơ nhện Đông Á" đã nghiên cứu cấu trúc vi mô của sợi tơ. Các chuyên gia của trường Đại học Cambridge ở nước Anh đã thông qua công nghệ lên men để chế tạo tơ nhện, họ hy vọng chế tạo các áo giáp chống đạn, chế tạo các vật liệu phức hợp (vật liệu composit) từ tơ nhện dùng trong công nghệ xe hơi và kỹ thuật hàng không vũ trụ.
Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Tri Thức Thế Kỉ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ Mới - NXB GD Việt Nam
---NHT---
Muối Iot
Để cơ thể khoẻ mạnh, con người cần được cung cấp
đầy đủ các nguyên tố hoá học cần thiết. Có những nguyên tố cần
được cung cấp với khối lượng lớn và có những nguyên tố cần được
cung cấp với khối lượng nhỏ (vi lượng). Iot là một nguyên tố vi lượng
hết sức cần thiết đối với con người. Theo các nhà khoa học, mỗi
ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ 1.10-4 đến 2.10-4 gam nguyên
tố iot.
Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dươi dạng
hợp chất của iot có sẵn trong muối ăn và một số loại thực phẩm.
Nhưng việc thiếu hụt iot vẫn thường xảy ra. Hiện nay, tính trên toàn
thế giới một phần ba số dân bị thiếu iot trong cơ thể. Ở Việt Nam,
theo điều tra mới nhất, 94% số dân thiếu hụt iot ở những mức độ khác
nhau.
Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai
hại. Thiếu iot làm não bị hư hại nên người ta trở nên đần độn, chậm
chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây ra bệnh bướu
cổ và hàng loạt rối loạn khác, đặc biệt nguy hiểm đối với bà mẹ
và trẻ em.
Để khắc phục sự thiếu hụt iot, người ta phải cho
them hợp chất của iot vào thực phẩm như: muối ăn, sữa, kẹo…
Việc dùng muối ăn làm phương tiện chuyển tải iot
vào cơ thể người được nhiều nước áp dụng.
Muối iot là muối ăn có trộn them một lượng nhỏ hợp
chất của iot (thường là KI hoặc KIO3). Thí dụ : Trộn 25 kg KI vào một
tấn muối ăn.
Người ta cũng cho thêm hợp chất iot vào bột canh,
nước mắm…
Việc dùng muối iot thật dễ dàng và đơn giản. Về
mùi vị, màu sắc, muối iot không khác gì muối ăn thường. Tuy nhiên hợp
chất iot có thể bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Vì vậy phải thêm muối
iot sau khi thực phẩm đã được nấu chín.
---NHT---
Vì sao đồng lại có nhiều màu?
Cho
dù đồng không được sử dụng rộng rãi như sắt, thép, nhưng đồng có những ưu điểm
mà sắt, thép không thể có được.
Đồng
tinh khiết có màu tím. Đồng tinh khiết dẫn điện, dẫn nhiệt rất tốt. Trong các
kim loại thì trừ bạc ra, đồng có độ dẫn điện lớn nhất. Trong công nghiệp sản xuất
đồ điện như dây điện, máy đóng ngắt điện, quạt điện, chuông điện, điện
thoại, v .v . đều cần một lượng lớn đồng. Đồng màu tím hết sức tinh khiết, đồng
tinh khiết thường được chế tạo bằng phương pháp điện phân.
Đồng
rất mềm. Thông thường từ 1 giọt đồng người ta có thể kéo thành sợi mảnh dài dến
2000m, dát thành các lá đồng rất mỏng, mỏng đến mức có thể nhìn xuyên qua, có
thể bị gió thổi bay.
Có
nhiều loại nhạc khí được chế tạo bằng đồng, nói cho chính xác thì là chế tạo bằng
đồng thau. Đồng thau là hợp kim của đồng và kẽm. Đồng được chế tạo rất sớm,
ngay từ thời nhà Hán ở Trung Quốc, người ta đã luyện được đồng thau. Đồng thau
còn có tên gọi là hoàng đồng (đồng màu vàng) là từ màu sắc mà đặt tên cho đồng
nhau. Tuỳ thuộc hàm lượng kẽm trong hợp kim mà hợp kim đồng chế tạo được sẽ có
màu khác nhau. Ví dụ với hàm lượng kẽm 18 - 20%, hợp kim có màu vàng đỏ. Hàm lượng
kẽm 20 - 30% hợp kim sẽ có màu vàng, từ 30 - 42% hợp kim có màu vàng nhạt, từ 42
- 50% sẽ có màu vàng tươi (của vàng kim loại), với hàm lượng kẽm 50 - 60% hợp
kim chế tạo được sẽ có màu trắng. Trong công nghiệp người ta hay dùng hợp kim có màu vàng với hàm lượng kẽm dưới
45%.
Tại
các công trình kiến trúc, thường người ta hay đặt các bức tượng đồng đen được
chế tạo bằng hợp kim của đồng với thiếc, đôi khi là hợp kim đồng thiếc có thêm kẽm.
Rất nhiều kim loại khi bị lạnh thì co lại, nhưng với đồng đen thì trái lại, khi
bị lạnh lại nở ra. Vì vậy khi dùng đồng đúc tượng thì nét mày rõ ràng, chi tiết
sắc sảo. Đồng đen cũng có tính chất chịu mài mòn rất tốt. Dùng đồng đen để chế
tạo ổ trục sẽ được các ổ trục chịu được mài mòn nổi tiếng trong công nghiệp. Các
loại dụng cụ chế tạo bằng đồng bạch sáng lấp lánh, rất đẹp, không bị gỉ xanh. Đồng
bạch chính là hợp kim của đồng với niken. Đồng bạch được chế tạo rất sớm từ thế
kỷ thứ nhất ở Trung Quốc. Đến thế kỷ XVIII đồng bạch mới được truyền từ Trung
Quốc đến Châu Âu. Bấy giờ người Đức bắt đầu học tập phương pháp của Trung Quốc
và tiến hành chế tạo trên quy mô lớn. Trước
đây có người gọi đồng bạch là Bạc của Đức chỉ là nhìn từ ngọn.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trích:
10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao – Tri Thức Thế Kỉ 21 – Chủ đề Hóa Học – Bộ Mới – Nhà Xuất
Bản Giáo Dục Việt Nam
Một số ứng dụng của Natrihidro Cacbonat
- Natri bicacbonat với tên thường gặp trong đời sống là baking soda có tác dụng tạo xốp, giòn cho thức ăn và ngoài ra còn có tác dụng làm đẹp cho bánh (bột nở).
- Dùng để tạo bọt và tăng pH trong các loại thuốc sủi bọt (ví dụ thuốc nhức đầu, v.v...).
- Baking soda được sử dụng rộng rãi trong chế biến thực phẩm và nhiều ứng dụng khác, nhưng cần chọn mua loại tinh khiết khi dùng với thực phẩm. Có thể mua ở hiệu thuốc, nơi bán những dụng cụ làm bánh với những hãng uy tín. Không nên mua ở cửa hàng hóa chất để sử dụng trong nấu nướng vì không an toàn (không tinh khiết, chứa nhiều tạp chất) và không rõ nguồn gốc. Do dễ khai thác nên hóa chất này khá rẻ, khoảng 5.000 đồng cho một gói 100g. Nếu dùng để tẩy rửa thì có thể mua ở cửa hàng hóa chất với giá chỉ khoảng 30.000 – 40.000 đồng/kg.
- Vì khi gặp nhiệt độ cao hay tác dụng với chất có tính axit, baking soda sẽ giải phóng ra khí CO2 (cacbon đioxit/khí cacbonic), do đó nó thường được dùng trong nấu ăn, tạo xốp cho nhiều loại bánh như cookies, muffin, biscuits, quẩy…, vào các loại nước giải khát, thêm vào sốt cà chua hay nước chanh để làm giảm nồng độ axit, hoặc cho vào nước ngâm đậu hay lúc nấu sẽ làm giảm thời gian chế biến, đậu mềm ngon và hạn chế tình trạng bị đầy hơi khi ăn các loại hạt đậu, đỗ. Baking soda cũng rất hiệu quả khi được dùng để chế biến các món thịt hầm hay gân, cơ bắp động vật tương tự như nấu đậu, có được điều đó là do tính axit của khí cacbonic khi được giải phóng đã ngấm vào và làm mềm các loại thực phẩm.
- Trong y tế, baking soda còn được gọi là thuốc muối, được dùng trung hòa axit, chữa đau dạ dày hay giải độc do axit; dùng làm nước súc miệng hoặc sử dụng trực tiếp: chà lên răng để loại bỏ mảng bám và làm trắng… Thành phần NaHCO3 còn giúp giảm lượng dầu trên da, da dầu là nguyên nhân chính của mụn trứng cá.
- Ngoài sử dụng trực tiếp cho con người, NaHCO3 còn được dùng lau chùi dụng cụ nhà bếp, tẩy rửa các khu vực cần vệ sinh nhờ tính năng mài mòn, tác dụng với một số chất (đóng cặn), rắc vào các khu vực xung quanh nhà để chống một số loại côn trùng.
- Ngoài ra NaHCO3 còn có nhiều ứng dụng trong công nghiệp da, cao su và chất chữa cháy.
Nguồn: Internet, Wikipedia
Lịch sử khám phá ra nguyên tố Hidro
Lịch sử hóa học ghi nhận rằng Hiđro được tìm ra năm 1766 và nhà vật lí
kiêm hóa học Anh H. Cavendish được công nhận là người tìm ra nguyên tố này.
Thật ra trước đó đã có một số nhà bác học (Bôi, Lêmêri, Lômônôxôp) biết đến khí này.
Nguyên tắc chung của những nguyên tử đồng vị của cùng một nguyên tố là chúng giống nhau về tính chất vật lí và hóa học. Những đồng vị của nguyên tố Hiđro là duy nhất có nhiều ngoại lệ! Có lẽ vì thế mà mỗi đồng vị có kí hiệu hóa học riêng (H, D và T).
Thật ra trước đó đã có một số nhà bác học (Bôi, Lêmêri, Lômônôxôp) biết đến khí này.
Chẳng hạn, Lômônôxôp năm 1745 đã nhận xét rằng khi hòa tan kim loại trong
axit thường ở miệng bình có hơi cháy được bay ra. Chịu ảnh hưởng của “thuyết
nhiên tố” nên nhà bác học Nga gọi hơi đó là nhiên tố.
Cũng như Blec, tất cả những thí nghiệm của Cavendish đều có tính chất định
lượng. Ông luôn luôn cân khối lượng các chất và đo thể tích của chúng, lấy
nguyên lí bảo toàn khối lượng làm căn cứ để so sánh. Công trình đầu tiên của
ông về hóa học các chất khí được công bố năm 1766, trong đó ông mô tả các
phương pháp điều chế và tính chất Hiđro mà ông gọi là “không khí cháy”.
Theo ông, có những chất khí nặng hơn không khí thường gấp 1,5 lần như
“không khí gỗ” hay “không khí liên kết” và có chất khí cháy được.
Theo quan niệm thời bấy giờ, than (Cacbon) có chứa nhiều “nhiên tố” hơn
là kim loại, bởi vì khi than cháy chỉ còn lại một tí tro, “không khí cháy” khi
cháy không còn để lại một tí gì cả, vì vậy Cavendish xem “không khí cháy” là
“nhiên tố tinh khiết”.
Theo quan điểm của nhà bác học Anh, Hiđro không có trong axit mà có trong
kim loại. Nhiệm vụ của axit là đẩy nhiên tố tinh khiết ra khỏi kim loại, tương
tự như axit đẩy khí cacbonic ra khỏi đá vôi.
Qua đó chúng ta thấy thuyết nhiên tố đã gây phiền hà, rắc rối như thế
nào! Ngày nay, chúng ta hiểu đơn giản rằng nguyên tố Hiđro có trong thành phần
của axit. Khi kim loại tác dụng với axit thì kim loại đã thay thế vị trí của
Hiđro và đẩy Hiđro ra ngoài.
Ví dụ: Zn + 2 HCl ----> ZnCl2 + H2
Tuy là một người suốt đời rất ngoan đạo đối với thuyết nhiên tố, nhưng
tài năng thực nghiệm của ông lại không ngoan đạo như vậy. Thuyết nhiên tố thừa
nhận nhiên tố có khối lượng âm, nhưng bằng cách đo tỉ khối của Hiđro (so với
không khí) ông đã tìm thấy khối lượng dương và bằng 0,09.
Về tính chất của khí Hiđro, nhà bác học Anh nhận thấy nó không tan trong
nước và trong kiềm. Ông cũng quan sát thấy rằng khi trộn Hiđro với không khí và
bật tia lửa điện thì xảy ra hiện tượng nổ. Đến năm 1781, Cavendish đã làm thí
nghiệm đốt cháy Hiđro và nhận thấy sản phẩm cháy là nước.
Ra đời năm 1766, Hiđro luôn luôn mang cái tên cúng cơm của nó là “không
khí cháy” cho đến năm 1779. Lúc này thành phần của nước đã được xác định.
Lavoadiê đề nghị đặt tên cho chất khí này theo tiếng La Tinh là Hidrogenium, vậy
từ hai chữ Hy Lạp hydr và gennas có nghĩa là “tạo ra nước”. Kí hiệu H do nhà
hóa học Thụy Điển J. Berzelius đề nghị.
Trong một thời gian dài, nhiều nhà bác học không tin tưởng rằng một
nguyên tố nhẹ như Hiđro có thể có đồng vị. Thực tế Hiđro còn có hai đồng vị. Đồng
vị Đơteri, kí hiệu hóa học là D được tìm ra năm 1932 khi cho bay hơi Hidro lỏng,
và năm 1944 tìm được trong không khí đồng vị Triti có tính phóng xạ, kí hiệu
hóa học là T, được tìm ra năm 1934. Hai đồng vị nặng này chỉ chiếm 0,01% trong
tổng số nguyên tử Hiđro, nhưng lại là rất quan trọng trong tương lai. Theo dự
báo của các nhà khoa học, trong vòng 20 đến 30 năm tới, chúng sẽ là nguồn năng
lượng vô tận của con người.
Nguyên tắc chung của những nguyên tử đồng vị của cùng một nguyên tố là chúng giống nhau về tính chất vật lí và hóa học. Những đồng vị của nguyên tố Hiđro là duy nhất có nhiều ngoại lệ! Có lẽ vì thế mà mỗi đồng vị có kí hiệu hóa học riêng (H, D và T).
Bản thân nguyên tố Hiđro cũng là một ngoại lệ, hiểu theo nghĩa, nó chưa
có vị trí yên ổn trong bảng HTTH. Nhiều nhà hóa học muốn sắp xếp nó cùng nhóm với
họ halogen, một số người khác muốn đặt nó cùng nhóm với họ kim loại kiềm.
Thật là “thân này ví xẻ làm đôi được”.
--------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: Internet












