Tìm kiếm

Vì sao đá hoa lại có nhiều màu ?

Ở các công trình kiến trúc có nhiều loại cấu kiện như cột, bia chế tác bằng đá, trong đó có loại bằng đá hoa. Đá hoa có nhiều loại: loại có màu trắng tinh khiết lại có màu xanh vằn đen, vằn trắng, vằn đỏ … thật muôn hình muôn vẻ.

Đá hoa là loại vật liệu kiến trúc quý. Đá hoa có thành phần chính là canxi cacbonat. Loại canxi cacbonat tinh khiết có màu trắng. Loại đá hoa trắng hay đá bạch ngọc chính là canxi cacbonat tinh khiết.
 
Hình: Chân trụ làm bằng đá hoa cương
Canxi cacbonat khó tan trong nước, nên các công trình kiến trúc làm bằng đá hoa thường khá bền vững, dù có dãi dầu mưa nắng qua năm tháng vẫn đứng trơ trơ. Canxi cacbonat dễ tan trong axit, nên khi canxi cacbonat gặp axit clohyđric sẽ hoà tan để thoát ra các bóng khí cacbon đioxit, một lúc sau sẽ tan hết. Người ta thường dùng phương pháp này để thử đá hoa.

Đá hoa trong thiên nhiên không phải canxi cacbonat tinh khiết mà có nhiều tạp chất khác nhau nên có màu sắc khác nhau.

Đá hoa có nhiều loại khác nhau, màu sắc đa dạng: Có loại màu hồng, có loại màu tím hoa đậu, có loại màu đen xám… Loại màu đỏ do có chứa muối caban, màu xanh do có chứa muối đồng, màu đen hoặc màu xám do có chứa sắt.
 
Hình: Đá hoa nhiều màu
Đá hoa mịn mặt, đều. Người ta không chỉ dùng đá hoa trong công trình kiến trúc mà còn dùng để chế tác nhiều đồ gia dụng như làm mặt bàn, trong điêu khắc và trang trí.

Trong thiên nhiên còn có một số loại đá vôi cũng có thành phần chính là canxi cacbonat. Nhưng đá vôi có cấu trúc thô lại giòn nên người ta không dùng làm việc gì khác mà chỉ để nung vôi.

Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Tri Thức Thế Kỉ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ Mới - Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam

---NHT---
Share:

CẤU TẠO NGUYÊN TỬ

Không có mô tả ảnh.
Share:

Sunfua trong tự nhiên

Chu trình của sunfua là một trong nhiều chu trình sinh hóa mà một thành phần hóa học hoặc hợp chất di chuyển thông qua các phần vô cơ hoặc hữu cơ của Trái Đất, thay đổi dạng hóa học của nó trong quá trình chuyển đổi. Giống như các chu trình của các bon và ni tơ, sunfua di chuyển giữa tầng sinh quyển, tầng khí quyển, tầng hydro và tầng đất đá (các tầng địa chất của Trái Đất). Trong sinh vật học, các chu trình của nước, oxy, nitơ, cácbon, phốt pho và sunfua luôn là các chu trình rất thú vị vì chúng là sự tổng hợp của chu trình sống.

Sunfua, thường tồn tại dưới dạng hợp chất axit amino cystene và methionine cũng như vitamin B, là một phần quan trọng của tất cả các cơ quan. Thực vật tổng hợp được chất dinh dưỡng từ các vi sinh vật từ đất và nước, sau đó chuyển hóa chúng thành dạng hợp chất có khả năng hấp thu. Động vật hấp thụ sunfua từ thực vật và một đường khác. Cả động vật và thực vật đều thải lại sunfua vào đất và nước khi chúng chết và tự chúng bị phân hủy bởi các vi sinh vật. Phần này của chu trình có thể tạo ra vòng lặp của riêng chúng ở cả môi trường đất lẫn môi trường nước, khi sunfua được hấp thụ bởi động và thực vật rồi được thải trở lại bởi sự phân hủy.
Một số lượng lớn sunfua được tìm thấy trong các miệng núi lửa
Tuy nhiên đây không phải là hợp chất duy nhất có sunfua là thành phần. Nó có ở khắp các núi lửa và miệng núi lửa ở vùng nhiệt đới và khi các núi lửa phun, một khối lượng lớn sunfua, hầu như ở dạng sunfua dioxit (SO2),có thể được đẩy vào tầng khí quyển. Sự ăn mòn ở đá và các sản phẩm do sunfua bay hơi hòa lẫn trong nước biển cũng có thể dẫn đến việc giải phóng sunfua. Thêm vào đó, sunfua ở tầng khí quyển cũng là kết quả từ các hoạt động của con người, ví dụ như đốt nguyên liệu rắn.

Trong không khí, sunfua dioxit (SO2) phản ứng với oxy và nước tạo thành muối sunfat và axit sunfuric. Các hợp chất này tan trong nước và có thể quay trở lại bề mặt của Trái Đất thông qua kết tủa cả ở dạng khô lẫn ẩm ướt. Tất nhiên, không phải tất cả các hợp chất sunfua đều dễ chuyển đổi; chúng cũng có rất nhiều ở các hồ nước lớn trong lớp vỏ của trái đất cũng như ở các trầm tích của đại dương (các vùng bị ứ đọng nước).
Các phản ứng của sunfua trong tự nhiên
Khí sunfua và khí hậu
Các hoạt động của con người như đốt nguyên liệu thô và xử lý kim loại sinh ra khoảng 90% khí sunfua dioxit ở tầng khí quyển. Khí sunfua này phản ứng với nwocs sinh ra axit sunfuric và tác dụng với các sản phẩm nhiệt khác để tạo ra các muối sunfua.
Hoạt động đốt nguyên liệu rắn gây ô nhiễm
Các hợp chất mới này rơi trở lại Trái Đất, thường là dưới dạng các cơn mưa axit. Kiểu axit kết tủa này có thể tạo ra các tác hại ghê gớm tới hệ thống thiên nhiên, làm đảo lộn sự cân bằng hóa học của các dòng sông, giết hại cá và đời sống thực vật. Nếu được tập trung riêng lại thì mưa axit thậm chí còn phá hủy được các tòa nhà và là nguyên nhân gây ra phân hủy hóa học.

Tuy nhiên, sự tương tác của môi trường đối với ô nhiễm sunfua không phải hoàn toàn là tai hại; khí sunfua ở tầng khí quyển góp phần tạo thành hình dạng của mây và hấp thu tia cực tím, phần nào bù lại nhiệt độ tăng do hiệu ứng nhà kính.

Thêm vào đó, khi mưa axit làm kết tủa sunfua ở những vũng nước ứ đọng, các loại nấm chi phối sunfua nhanh chóng cạnh tranh với các vi khuẩn sản sinh khí mê tan, làm giảm đáng kể sự lan tràn của khí mê tan, thứ chiếm tới 22% do hiệu ứng nhà kính tới con người.

Nguồn: Tạp chí Khoa học Môi trường
Share:

Vì sao đá quý lại có nhiều màu sắc ?

Đá quý có nhiều màu sắc lấp lánh gợi sự ham thích của mọi người. Vẻ đẹp kỳ lạ của đá quý do đâu mà có ? Qua các phân tích hoá học và phân tích quang phổ, người ta mới biết một số kim loại đã tô điểm cho đá quý sắc thái như vậy. Trong đá quý có thể chứa kim loại nhiều hoặc ít, có loại chứa nhiều kim loại nên chúng có nhiều màu sắc khác nhau. Ví dụ các đá quý  màu đỏ hoặc xanh đen thường có chứa kim loại crom. Loại ngọc Thổ Nhĩ Kỳ (hay còn gọi là lục tùng thạch) có màu xanh biếc là do có chứa đồng. Trong loại mã não màu đỏ chu sa có chứa sắt. Các kim loại có trong các đá quý hấp thụ một phần ánh sáng Mặt Trời và cho phản xạ các tia sáng còn lại, các tia phản xạ này sẽ cho màu của đá quý.

Có một số loại đá quý màu sắc của chúng có liên quan đến sự sắp xếp các nguyên tử trong tinh thể đá quý. Màu xanh ánh vàng của ngọc lam, màu vàng lục của loại ngọc xanh biếc là do quy luật phân bố của các nguyên tử trong nội bộ tinh thể quyết định. 


Màu sắc của đá quý có thể có được do sự nhuộm màu nhân tạo. Có khá nhiều cách nhuộm màu đá. Người cổ Hy Lạp, cổ La Mã đã dùng cách xử lý sau đây để nhuộm màu mã não. Trước hết người ta ngâm mã não vào mật ong đun nóng mấy tuần lễ. Sau đó lấy ra rửa sạch bằng nước rồi cho vào axit sunfuric và đun sôi mấy giờ liền. Kết quả người ta sẽ thu được loại mã não có vằn đỏ hoặc đen. Người dân vùng Ural còn có phương pháp xử lý kỳ diệu hơn. Họ đem thạch anh ám khói khảm vào bánh mì rồi đem đốt trên lửa, họ sẽ được một loại thạch anh ám khói ánh vàng hiếm thấy.

Ngày nay nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật người ta đã dùng các tia phóng xạ, tia tử ngoại để xử lý và nhuộm màu đá quý. Ngọc lam khi đem chiếu tia phóng xạ sẽ biến thành màu vàng. Thạch anh phấn hồng khi xử lý với tia tử ngoại sẽ có màu nâu.

Tuy nhiên bí mật v ề màu sắc đá quý vẫn chưa được khám phá hoàn toàn. Thế nhưng người ta đã lợi dụng các tri thức bước đầu về đá quý để chế tạo được các loại đá quý  nhân tạo không kém gì đá quý tự nhiên. Các loại đá quý không chỉ dùng để chế tác đồ trang sức mà còn để chế tạo ổ trục cho các loại đồng hồ. Trên các ống phun khí của các động cơ cần đến mấy trăm ổ trục bằng ngọc đỏ. Các "chân kính" trên đồng hồ đeo tay  cũng được chế tạo bằng ngọc đỏ.

Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Tri Thức Thế Kỉ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ Mới - Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam
---NHT---
Share:

Vài chuyện tức cười tại lễ kỉ niệm nguyên tố Flo

Năm 1986, tại Paris, các nhà hóa họ của nhiều nước đã họp nhau lại để kỉ niệm 100 năm ngày Henri Moissan (1852 – 1907), nhà hóa học Pháp khám phá ra khí flo tự do. Tại buổi lễ đã có nhiều người phát biểu, nhiều báo cáo khoa học được trình bày và thậm chí đã phát hành loại tem kỉ niệm.

Và cũng trong buổi lễ kỉ niệm đó đã diễn ra những chuyện tức cười. Nhà họa sĩ phác thảo mẫu tem đã quyết định trình bày trên con tem phát minh của Moissan. Thế nhưng trên con tem, họa sĩ đã trình bày không phải là phương trình phản ứng phân hủy điện hóa flohidric tinh khiết để tạo khí flo tự do do Moissan tìm ra mà là phương trình của phản ứng ngược lại với nó. Hóa ra là người ta đã kỉ niệm nhà hóa học xuất chúng người Pháp đã phát minh ra sự tương tác giữa flo và hidro.


M.Gutlitski, báo cáo viên người Mỹ, đã gây ra một chuyện tức cười khác. Ông đã chứng minh rằng khí flo được tìm thấy không phải vào năm 1886 mà là vào năm 1881. Người phát minh ra nó không phải là Moissan mà là Bohuslay Brauner, nhà hóa học Tiệp Khắc. Brauner đã xác định được rằng khi đốt nóng CeF4 (do ông tìm ra dưới dạng đihiđrat) sẽ tạo ra hơi nước, HF và một chất khí khác có mùi hăng...

Theo M.Gutlitski, cùng với một số thí nghiệm khác. Brauner đã chứng minh được rằng hỗn hợp khí đó có bao hàm khí flo tự do, sau khi công bố các kết quả thí nghiệm của mình trên các tạp chí hóa học có uy tín nhất. Quả thật, Brauner cũng có dè dặt khi tuyên bố rằng mình đã phát minh nguyên tố thứ 9. Báo cáo viên đã đưa ra một câu hỏi: Phải chăng đó là cơ sở để phủ nhận quyền ưu tiên của Brauner.

Không nên nghĩ rằng sau bản báo cáo đó, những người tổ chức buổi lễ đã nản chí và tuyên bố giải tán hội nghị. Ở phòng bên, cạnh phòng họp có bán một tuyển tập “Kỉ niệm 100 năm đầu tiên ngày tìm ra khí flo”. Trong tuyển tập đã nói rõ: Sự thận trọng của Brauner là đúng. Sau ông, nhiều người đã lặp lại thí nghiệm trên nhưng không ai tìm ra được khí flo tự do trong hỗn hợp được tạo nên.

Trích: 17 mẫu chuyện Hóa Học hài hước
---NHT---
Share:

Vì sao kim cương lại đặc biệt cứng như vậy?

Chắc các bạn không hề nghĩ rằng giữa kim cương sáng lấp lánh và than chì đen thui thủi lại là anh em họ hàng, đều là cacbon tinh khiết, tồn tại trong tự nhiên, chỉ có diện mạo và tính chất của chúng khác nhau.

Than chì rất mềm, chỉ cần dùng mảnh nhỏ than chì vạch nhẹ trên giấy là có thể để lại vết đen trên giấy. Ruột bút chì được chế tạo bằng than chì. Còn kim cương là khoáng vật có độ cứng cao nhất trong gia đình các khoáng vật, là "quán quân" về độ cứng: ở các cửa hàng bán kính, các nhân viên phục vụ dùng kim cương làm lưỡi dao để cắt kính. Các máy khoan sâu, người ta dùng mũi khoan có lắp mũi kim cương làm tăng vận tốc xuy ên sâu của mũi khoan lên nhiều. Dao kim cương còn dùng để gia công các kim loại, hợp kim cứng nhất. Than chì và kim cương đều thuộc họ hàng nhà cacbon, vì sao chúng lại có đặc tính khác nhau nhiều như vậy ?


Nguyên do là ở than chì, các nguyên tử cacbon được sắp xếp thành lớp, lực kết hợp giữa các nguyên tử giữa các lớp rất nhỏ, giống như các lá bài xếp trong cỗ bài, rất dễ tách ra khỏi nhau. Còn trong kim cương các nguyên tử cacbon được sắp xếp thành tinh thể đều đặn, mỗi nguyên tử cacbon nối chặt chẽ với 4 nguyên tử xung quanh, tạo nên một tinh thể có cấu trúc rất bền chắc nên có độ cứng rất cao.

Sản lượng kim cương trong thiên nhiên rất ít, nói chung thường bị vùi lấp ở những lớp sâu trong vỏ Trái Đất. Với điều kiện nhiệt độ và áp suất rất cao của các lớp dung nham sâu trong lòng đất, cacbon mới có khả năng kết tinh để thành các tinh thể kim cương quý giá. Do sản lượng kim cương thiên nhiên rất ít, giá trị rất lớn, rất quý nên người ta đã tìm cách dùng nhiệt độ cao và áp suất cao để chế tạo kim cương nhân tạo.

Người ta chứng minh rằng ở nhiệt độ cao đến 2000°C và dưới áp suất 5,065.107 pascal (tức 50.000 atm) trở lên mới đạt kim cương ở trạng thái ổn định. Gần đây người ta đã áp dụng điều kiện tương tự để biến than chì thành kim cương.

Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Tri Thức Thế Kỉ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ Mới - Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam

---NHT---
Share:

Tìm hiểu về nguyên tố Berium (Be)

Nguyên tố tiếp theo, beryllium, tương đối hiếm trong vũ trụ vì nó cũng không được hình thành trong lò phản ứng hạt nhân trong các ngôi sao. Nó được hình thành khi một *siêu tân tinh* ra đời, các hạt lớn hơn phân rã để tạo ra kim loại này.
Các ứng dụng cơ bản của kim loại Beryllium
+ Beryllium được sử dụng trong các hợp kim với đồng hoặc niken để chế tạo con quay hồi chuyển, lò xo, tiếp xúc điện, điện cực hàn điểm và các công cụ không phát ra tia lửa.
+ Các hợp kim beryllium khác được sử dụng làm vật liệu cấu trúc cho máy bay tốc độ cao, tên lửa, tàu vũ trụ và vệ tinh liên lạc.
+ Beryllium có thể cho tia X đi qua, vì vậy lá beryllium siêu mỏng đang được sử dụng trong quang khắc tia X. Beryllium cũng được sử dụng trong các lò phản ứng hạt nhân như một vật phản xạ hoặc chất điều tiết neutron.

Lưu ý: Beryllium và các hợp chất của nó là độc hại và gây ung thư. Nếu bụi beryllium hoặc khói được hít vào cơ thể, nó có thể dẫn đến viêm phổi không thể chữa được gọi là berylliosis.
*Siêu tân tinh*: được hình thành khi một sao ngôi sao kết thúc vòng đời của mình để tạo ra siêu tân tinh, nó có thể có độ sáng hơn cả thiên hà chứa nó.

--TH--
Share:

Điều gì khơi mào một phản ứng hóa học?

Share:

Tìm hiểu về những ứng dụng của nguyên tố Lithium (Li)

Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về Lithium (Li), một trong những nguyên tố đang làm thay đổi rất lớn trong sản xuất các loại lưu trữ năng lượng (pin) và nhiều ứng dụng của nó:

+ Việc sử dụng lithium quan trọng nhất là trong pin sạc cho điện thoại di động, máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số và xe điện. Lithium cũng được sử dụng trong một số loại pin không sạc được cho những thứ như máy trợ tim, đồ chơi và đồng hồ.

+ Kim loại lithium được chế tạo thành hợp kim với aluminium (Al) và magnesium (Mg), cải thiện khả năng bền của chúng và làm cho chúng nhẹ hơn. Một hợp kim magnesium - lithium được sử dụng để mạ áo giáp. Hợp kim aluminium - lithium được sử dụng trong máy bay, khung xe đạp và tàu cao tốc.


+ Lithium oxide (Li2O) được sử dụng trong kính đặc biệt và gốm thủy tinh. Lithium chloride (LiCl) là một trong những vật liệu hút ẩm nhất được biết đến, và được sử dụng trong điều hòa không khí và hệ thống sấy công nghiệp (cũng như lithium bromide). Lithium stearate được sử dụng như một chất bôi trơn đa năng và nhiệt độ cao.

+ Lithium carbonate (Li2CO3) được sử dụng trong các loại thuốc để điều trị trầm cảm hưng cảm, mặc dù hành động của nó đối với não vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Lithium hydride được sử dụng như một phương tiện lưu trữ hydro để sử dụng làm nhiên liệu.

+ Trong hóa học: LiAlH4 là Lithium aluminium hydride, là một chất khử mạnh. Các nhà khoa học Finholt, Bond và Schlesinger lần đầu tiên phát hiện ra hợp chất này vào năm 1947. Hơn nữa, có nhiều ứng dụng của hợp chất này trong các quá trình tổng hợp hữu cơ. Nó phản ứng dữ dội với nước, dẫn đến giải phóng khí hydrogen (H2).

--TH--
Share:

Loại hợp chất cao phân tử thiên nhiên nào bền vững nhất?

Các loại vật liệu trong tự nhiên như bông, lanh, tơ, tre, len, cao su… đều là những cao phân tử thiên nhiên, phân tử của chúng có kích thước rất lớn, rất dài. Các hợp chất cao phân tử thường không tan trong nước, có độ bền cơ học tốt, có tính cách điện, có tính bền mài mòn. Ngoài ra các hợp chất cao phân tử thường có cấu trúc sợi, tỷ lệ của độ dài so với bán kính của phân tử rất lớn, lớn hơn 1000. Các hợp chất cao phân tử có độ dẻo, có tính đàn hồi tốt. Từ thời xa xưa, loài người đã biết sử dụng nhiều loại hợp chất cao phân tử tự nhiên làm vật liệu dệt đan lưới, làm giấy, sản xuất keo dán…và nhiều vật dụng trong cuộc sống hằng ngày.

Trong tự nhiên có rất nhiều loại hợp chất cao phân tử. Thế nhưng loại hợp chất cao phân tử tự nhiên nào là bền nhất Các nhà sinh vật học đã tiến hành nhiều thí nghiệm về vấn đề này . Nhiều thực nghiệm đã chứng minh loại tơ do nhện nhả ra là loại hợp chất cao phân tử có độ bền cao nhất. Độ bền của tơ nhện gấp 5 lần độ bền của sợi thép có cùng kích thước. Tơ nhện là dạng hợp chất cao phân tử do các protein dạng axit amin tạo nên.
Loài nhện đã dùng lưới tơ do chúng nhả ra có thể bắt giữ nhiều loại côn trùng khoẻ hơn chúng nhiều lần. Tơ nhện không chỉ bền mà còn có độ dính bám đặc thù. Do tơ nhện có nhiều tính năng ưu việt nên được nhiều nhà khoa học hết sức quan tâm. Tờ báo nước Anh, tờ "Lưu thông tiền tệ" số 3-11-1988 có đăng bài báo về việc nghiên cứu tơ nhện. Bài báo nêu lên ý kiến: Tơ nhện là hợp chất cao phân tử tự nhiên có độ bền vững rất cao, nếu đi sâu nghiên cứu sẽ có thể tạo được loại vật liệu mới, quý giá. Ở Nhật Bản có thành lập "Hiệp hội tơ nhện Đông Á" đã nghiên cứu cấu trúc vi mô của sợi tơ. Các chuyên gia của trường Đại học Cambridge ở nước Anh đã thông qua công nghệ lên men để chế tạo tơ nhện, họ hy vọng chế tạo các áo giáp chống đạn, chế tạo các vật liệu phức hợp (vật liệu composit) từ tơ nhện dùng trong công nghệ xe hơi và kỹ thuật hàng không vũ trụ.

Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao - Tri Thức Thế Kỉ 21 - Chủ đề Hóa Học - Bộ Mới - NXB GD Việt Nam
---NHT---
Share:

Muối Iot

Để cơ thể khoẻ mạnh, con người cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố hoá học cần thiết. Có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng lớn và có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng nhỏ (vi lượng). Iot là một nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết đối với con người. Theo các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ 1.10-4 đến 2.10-4 gam nguyên tố iot.
Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dươi dạng hợp chất của iot có sẵn trong muối ăn và một số loại thực phẩm. Nhưng việc thiếu hụt iot vẫn thường xảy ra. Hiện nay, tính trên toàn thế giới một phần ba số dân bị thiếu iot trong cơ thể. Ở Việt Nam, theo điều tra mới nhất, 94% số dân thiếu hụt iot ở những mức độ khác nhau.
Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai hại. Thiếu iot làm não bị hư hại nên người ta trở nên đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây ra bệnh bướu cổ và hàng loạt rối loạn khác, đặc biệt nguy hiểm đối với bà mẹ và trẻ em.


Để khắc phục sự thiếu hụt iot, người ta phải cho them hợp chất của iot vào thực phẩm như: muối ăn, sữa, kẹo…
Việc dùng muối ăn làm phương tiện chuyển tải iot vào cơ thể người được nhiều nước áp dụng.
Muối iot là muối ăn có trộn them một lượng nhỏ hợp chất của iot (thường là KI hoặc KIO3). Thí dụ : Trộn 25 kg KI vào một tấn muối ăn.
Người ta cũng cho thêm hợp chất iot vào bột canh, nước mắm…
Việc dùng muối iot thật dễ dàng và đơn giản. Về mùi vị, màu sắc, muối iot không khác gì muối ăn thường. Tuy nhiên hợp chất iot có thể bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Vì vậy phải thêm muối iot sau khi thực phẩm đã được nấu chín.
---NHT---
Share:

Vì sao đồng lại có nhiều màu?

Cho dù đồng không được sử dụng rộng rãi như sắt, thép, nhưng đồng có những ưu điểm mà sắt, thép không thể có được.

Đồng tinh khiết có màu tím. Đồng tinh khiết dẫn điện, dẫn nhiệt rất tốt. Trong các kim loại thì trừ bạc ra, đồng có độ dẫn điện lớn nhất. Trong công nghiệp sản xuất đồ điện như dây  điện, máy  đóng ngắt điện, quạt điện, chuông điện, điện thoại, v .v . đều cần một lượng lớn đồng. Đồng màu tím hết sức tinh khiết, đồng tinh khiết thường được chế tạo bằng phương pháp điện phân.
Đồng rất mềm. Thông thường từ 1 giọt đồng người ta có thể kéo thành sợi mảnh dài dến 2000m, dát thành các lá đồng rất mỏng, mỏng đến mức có thể nhìn xuyên qua, có thể bị gió thổi bay.

Có nhiều loại nhạc khí được chế tạo bằng đồng, nói cho chính xác thì là chế tạo bằng đồng thau. Đồng thau là hợp kim của đồng và kẽm. Đồng được chế tạo rất sớm, ngay từ thời nhà Hán ở Trung Quốc, người ta đã luyện được đồng thau. Đồng thau còn có tên gọi là hoàng đồng (đồng màu vàng) là từ màu sắc mà đặt tên cho đồng nhau. Tuỳ thuộc hàm lượng kẽm trong hợp kim mà hợp kim đồng chế tạo được sẽ có màu khác nhau. Ví dụ với hàm lượng kẽm 18 - 20%, hợp kim có màu vàng đỏ. Hàm lượng kẽm 20 - 30% hợp kim sẽ có màu vàng, từ 30 - 42% hợp kim có màu vàng nhạt, từ 42 - 50% sẽ có màu vàng tươi (của vàng kim loại), với hàm lượng kẽm 50 - 60% hợp kim chế tạo được sẽ có màu trắng. Trong công nghiệp người ta hay  dùng hợp kim có màu vàng với hàm lượng kẽm dưới 45%.
Tại các công trình kiến trúc, thường người ta hay đặt các bức tượng đồng đen được chế tạo bằng hợp kim của đồng với thiếc, đôi khi là hợp kim đồng thiếc có thêm kẽm. Rất nhiều kim loại khi bị lạnh thì co lại, nhưng với đồng đen thì trái lại, khi bị lạnh lại nở ra. Vì vậy khi dùng đồng đúc tượng thì nét mày rõ ràng, chi tiết sắc sảo. Đồng đen cũng có tính chất chịu mài mòn rất tốt. Dùng đồng đen để chế tạo ổ trục sẽ được các ổ trục chịu được mài mòn nổi tiếng trong công nghiệp. Các loại dụng cụ chế tạo bằng đồng bạch sáng lấp lánh, rất đẹp, không bị gỉ xanh. Đồng bạch chính là hợp kim của đồng với niken. Đồng bạch được chế tạo rất sớm từ thế kỷ thứ nhất ở Trung Quốc. Đến thế kỷ XVIII đồng bạch mới được truyền từ Trung Quốc đến Châu Âu. Bấy giờ người Đức bắt đầu học tập phương pháp của Trung Quốc và tiến hành chế tạo trên quy  mô lớn. Trước đây có người gọi đồng bạch là Bạc của Đức chỉ là nhìn từ ngọn.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao – Tri Thức Thế Kỉ 21 – Chủ đề Hóa Học – Bộ Mới – Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam
Share:

Một số ứng dụng của Natrihidro Cacbonat

  • Natri bicacbonat với tên thường gặp trong đời sống là baking soda có tác dụng tạo xốp, giòn cho thức ăn và ngoài ra còn có tác dụng làm đẹp cho bánh (bột nở).
  • Dùng để tạo bọt và tăng pH trong các loại thuốc sủi bọt (ví dụ thuốc nhức đầu, v.v...).
  • Baking soda được sử dụng rộng rãi trong chế biến thực phẩm và nhiều ứng dụng khác, nhưng cần chọn mua loại tinh khiết khi dùng với thực phẩm. Có thể mua ở hiệu thuốc, nơi bán những dụng cụ làm bánh với những hãng uy tín. Không nên mua ở cửa hàng hóa chất để sử dụng trong nấu nướng vì không an toàn (không tinh khiết, chứa nhiều tạp chất) và không rõ nguồn gốc. Do dễ khai thác nên hóa chất này khá rẻ, khoảng 5.000 đồng cho một gói 100g. Nếu dùng để tẩy rửa thì có thể mua ở cửa hàng hóa chất với giá chỉ khoảng 30.000 – 40.000 đồng/kg.
  • Vì khi gặp nhiệt độ cao hay tác dụng với chất có tính axit, baking soda sẽ giải phóng ra khí CO2 (cacbon đioxit/khí cacbonic), do đó nó thường được dùng trong nấu ăn, tạo xốp cho nhiều loại bánh như cookies, muffin, biscuits, quẩy…, vào các loại nước giải khát, thêm vào sốt cà chua hay nước chanh để làm giảm nồng độ axit, hoặc cho vào nước ngâm đậu hay lúc nấu sẽ làm giảm thời gian chế biến, đậu mềm ngon và hạn chế tình trạng bị đầy hơi khi ăn các loại hạt đậu, đỗ. Baking soda cũng rất hiệu quả khi được dùng để chế biến các món thịt hầm hay gân, cơ bắp động vật tương tự như nấu đậu, có được điều đó là do tính axit của khí cacbonic khi được giải phóng đã ngấm vào và làm mềm các loại thực phẩm.
  • Trong y tế, baking soda còn được gọi là thuốc muối, được dùng trung hòa axit, chữa đau dạ dày hay giải độc do axit; dùng làm nước súc miệng hoặc sử dụng trực tiếp: chà lên răng để loại bỏ mảng bám và làm trắng… Thành phần NaHCO3 còn giúp giảm lượng dầu trên da, da dầu là nguyên nhân chính của mụn trứng cá.
  • Ngoài sử dụng trực tiếp cho con người, NaHCO3 còn được dùng lau chùi dụng cụ nhà bếp, tẩy rửa các khu vực cần vệ sinh nhờ tính năng mài mòn, tác dụng với một số chất (đóng cặn), rắc vào các khu vực xung quanh nhà để chống một số loại côn trùng.
  • Ngoài ra NaHCO3 còn có nhiều ứng dụng trong công nghiệp da, cao su và chất chữa cháy. 
------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: Internet, Wikipedia
Share:

Lịch sử khám phá ra nguyên tố Hidro

Lịch sử hóa học ghi nhận rằng Hiđro được tìm ra năm 1766 và nhà vật lí kiêm hóa học Anh H. Cavendish được công nhận là người tìm ra nguyên tố này.


Thật ra trước đó đã có một số nhà bác học (Bôi, Lêmêri, Lômônôxôp) biết đến khí này.
Chẳng hạn, Lômônôxôp năm 1745 đã nhận xét rằng khi hòa tan kim loại trong axit thường ở miệng bình có hơi cháy được bay ra. Chịu ảnh hưởng của “thuyết nhiên tố” nên nhà bác học Nga gọi hơi đó là nhiên tố.
Cũng như Blec, tất cả những thí nghiệm của Cavendish đều có tính chất định lượng. Ông luôn luôn cân khối lượng các chất và đo thể tích của chúng, lấy nguyên lí bảo toàn khối lượng làm căn cứ để so sánh. Công trình đầu tiên của ông về hóa học các chất khí được công bố năm 1766, trong đó ông mô tả các phương pháp điều chế và tính chất Hiđro mà ông gọi là “không khí cháy”.
Theo ông, có những chất khí nặng hơn không khí thường gấp 1,5 lần như “không khí gỗ” hay “không khí liên kết” và có chất khí cháy được.


Theo quan niệm thời bấy giờ, than (Cacbon) có chứa nhiều “nhiên tố” hơn là kim loại, bởi vì khi than cháy chỉ còn lại một tí tro, “không khí cháy” khi cháy không còn để lại một tí gì cả, vì vậy Cavendish xem “không khí cháy” là “nhiên tố tinh khiết”.
Theo quan điểm của nhà bác học Anh, Hiđro không có trong axit mà có trong kim loại. Nhiệm vụ của axit là đẩy nhiên tố tinh khiết ra khỏi kim loại, tương tự như axit đẩy khí cacbonic ra khỏi đá vôi.
Qua đó chúng ta thấy thuyết nhiên tố đã gây phiền hà, rắc rối như thế nào! Ngày nay, chúng ta hiểu đơn giản rằng nguyên tố Hiđro có trong thành phần của axit. Khi kim loại tác dụng với axit thì kim loại đã thay thế vị trí của Hiđro và đẩy Hiđro ra ngoài.
Ví dụ: Zn + 2 HCl ----> ZnCl2 + H2
Tuy là một người suốt đời rất ngoan đạo đối với thuyết nhiên tố, nhưng tài năng thực nghiệm của ông lại không ngoan đạo như vậy. Thuyết nhiên tố thừa nhận nhiên tố có khối lượng âm, nhưng bằng cách đo tỉ khối của Hiđro (so với không khí) ông đã tìm thấy khối lượng dương và bằng 0,09.
Về tính chất của khí Hiđro, nhà bác học Anh nhận thấy nó không tan trong nước và trong kiềm. Ông cũng quan sát thấy rằng khi trộn Hiđro với không khí và bật tia lửa điện thì xảy ra hiện tượng nổ. Đến năm 1781, Cavendish đã làm thí nghiệm đốt cháy Hiđro và nhận thấy sản phẩm cháy là nước.
Ra đời năm 1766, Hiđro luôn luôn mang cái tên cúng cơm của nó là “không khí cháy” cho đến năm 1779. Lúc này thành phần của nước đã được xác định. Lavoadiê đề nghị đặt tên cho chất khí này theo tiếng La Tinh là Hidrogenium, vậy từ hai chữ Hy Lạp hydr và gennas có nghĩa là “tạo ra nước”. Kí hiệu H do nhà hóa học Thụy Điển J. Berzelius đề nghị.

Trong một thời gian dài, nhiều nhà bác học không tin tưởng rằng một nguyên tố nhẹ như Hiđro có thể có đồng vị. Thực tế Hiđro còn có hai đồng vị. Đồng vị Đơteri, kí hiệu hóa học là D được tìm ra năm 1932 khi cho bay hơi Hidro lỏng, và năm 1944 tìm được trong không khí đồng vị Triti có tính phóng xạ, kí hiệu hóa học là T, được tìm ra năm 1934. Hai đồng vị nặng này chỉ chiếm 0,01% trong tổng số nguyên tử Hiđro, nhưng lại là rất quan trọng trong tương lai. Theo dự báo của các nhà khoa học, trong vòng 20 đến 30 năm tới, chúng sẽ là nguồn năng lượng vô tận của con người.


Nguyên tắc chung của những nguyên tử đồng vị của cùng một nguyên tố là chúng giống nhau về tính chất vật lí và hóa học. Những đồng vị của nguyên tố Hiđro là duy nhất có nhiều ngoại lệ! Có lẽ vì thế mà mỗi đồng vị có kí hiệu hóa học riêng (H, D và T).
Bản thân nguyên tố Hiđro cũng là một ngoại lệ, hiểu theo nghĩa, nó chưa có vị trí yên ổn trong bảng HTTH. Nhiều nhà hóa học muốn sắp xếp nó cùng nhóm với họ halogen, một số người khác muốn đặt nó cùng nhóm với họ kim loại kiềm.
Thật là “thân này ví xẻ làm đôi được”.
--------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: Internet

Share:

Kinh nghiệm giải một số bài toán Amin

Kinh nghiệm giải một số bài toán Amin
Dạng 1: Phản ứng thể hiện tính bazơ của amin
Với dạng bài này, một số điều học sinh cần lưu ý như:
Các amin đều phản ứng được với các dung dịch axit như HCl, HNO3 , H2SO4, CH3COOH, CH2=CH-COOH,…. Bản chất của phản ứng là nhóm chức amin phản ứng với ion H+ tạo ra muối amoni. 
– NH2 + H+ à - NH3+
Phương pháp giải bài tập amin chủ yếu sử dụng định luật bảo toàn khối lượng. Đối với các amin chưa biết số nhóm chức thì ta lập tỉ lệ để xác định số nhóm chức trong phân tử amin. 
Số nhóm chức amnin = nH+/ namin.
Một số ví dụ:



Dạng 2: Phản ứng đốt cháy của Amin
Với dạng bài này, một số điều học sinh cần lưu ý như:
Phương trình đốt cháy một amin ở dạng tổng quát:



Phương pháp khi giải bài tập đốt cháy amin: Sử dụng định luật bảo toàn nguyên tố để tìm công thức của amin sẽ nhanh hơn so với lập tỉ lệ mol nC: nH: nN. Đối với bài toán đốt cháy hỗn hợp các amin thì sử dụng công thúc trung bình. Đối với bài tập đốt cháy amin bằng hỗn hợp O2 và O3 thì nên qui đổi hỗn hợp thành O.
Một số ví dụ minh họa:
(Đây là chia sẻ của cô giáo Nguyễn Thị Thảo Ly - GV Trường THPT Trần Văn Bảy ( Sóc Trăng) được đăng trên báo Giáo Dục Thời Đại)
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

"Băng khô" có phải là băng không ?


Tại bang Texas của nước Mỹ đã từng xảy ra một sự việc lạ: có lần có mấy đội thăm dò địa chất tiến hành khoan tìm dầu mỏ, họ đã khoan đến một độ rất sâu. Đột nhiên do áp suất rất cao của chất khí bị nén dưới mặt đất phụt ra rất mạnh, nên ngay lúc đó ở miệng lỗ phun có một đống lớn "tuyết trắng". Điều kỳ lạ là khi các nhân viên đội thăm dò chạm tay vào đám tuyết thì trên ngón tay không phải là giọt nước mà là màu đen.

Nguyên do là loại "tuyết trắng" này không phải là tuyết mà là "băng khô". Băng khô không phải là băng vì băng khô không do nước bị lạnh đông tạo ra mà lại do một chất khí không màu là cacbon đioxit đông kết mà thành.

Nếu cho cacbon đioxit chứa vào bình kín rồi nén lại, cacbon đioxit sẽ biến thành chất lỏng giống như nước. Nếu lại hạ nhiệt độ, chất lỏng sẽ biến thành chất màu trắng giống như tuyết xuất hiện vào mùa đông, đó chính là "băng khô".

Trông bên ngoài thì băng khô cũng mịn như tuyết, nhưng chớ sờ tay vào, vì nhiệt độ của băng khô xuống đến -78,5°C có thể làm tay bị thương. Sau khi bị thương da sẽ biến thành các vết đen, chỉ sau ít ngày sẽ bị thối rữa.

Nếu bạn để băng khô trong phòng, nó sẽ nhanh chóng biến mất, biến thành khí cacbon đioxit và bay vào không khí. Đó là do băng khô dưới áp suất thường không biến thành trạng thái lỏng mà hấp thụ nhiệt để biến ngay thành trạng thái khí, người ta gọi đó là hiện tượng thăng hoa

Có điều lý thú là do băng khô có nhiệt độ rất thấp, khi thăng hoa sẽ làm không khí xung quanh hạ nhiệt độ xuống rất thấp một cách nhanh chóng làm cho hàm lượng nước trong không khí (không khí ẩm) sẽ ngưng tụ thành sương mù. Lợi dụng đặc điểm đó của băng khô, trong điện ảnh người ta đã rải băng khô để tạo cảnh tượng mây mù. Ngoài ra trong tình huống cần thiết người ta có rải băng khô từ máy bay bay trên cao để làm mưa nhân tạo.

Trích: 10 Vạn Câu Hỏi Vì Sao – Tri Thức Thế Kỉ 21 – Chủ đề Hóa Học – Bộ Mới – Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Cách để phân biệt các chất liệu vải


Căn cứ vào bản chất của các chất liệu làm nên vải ta có thể nhận biết cách đơn giản sau:
  • Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám đậm.
  • Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn vải sợi bông, có mùi khét như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp thì tan.
  • Nếu vải làm bằng lông cừu( len lông cừu): Khi đốt bắt cháy không nhanh, bốc khói, có mùi khét như đốt tóc và tạo thành những bọt phồng, rồi vón cục có màu đen hơi óng ánh, giòn, bóp tan ngay.
  • Nếu vải làm bằng sợi visco: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám nhưng rất ít.
  • Nếu vải làm bằng sợi axetat: Khi đốt sợi vải bắt cháy chậm ,thành giọt dẻo màu nâu đậm, có hoa lửa, không bốc cháy thành ngọn lửa, sau đó kết thành cục màu đen, dễ bóp nát.
  • Nếu vải làm bằng sợi poliamit(nilon): Khi đốt sợi vải không cháy ngọn lửa mà co vón lại và cháy thành từng giọt dẻo màu trắng, khi nguội thì biến thành cục cứng có màu nâu nhạt, bóp khó nát.

------------------------------------------------------------------------------------

Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"
Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất

Share:

Khái quát nhóm Halogen (Nhóm VIIA)



------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Câu chuyện: Phát hiện chất nổ Hóa Học có sức công phá mạnh gấp 7 lần TNT


Từ một tai nạn ở phòng thí nghiệm Munich (Đức), các nhà khoa học tình cờ phát hiện ra khả năng giải phóng năng lượng của bọt silic. Sau nhiều năm nghiên cứu, họ kết luận chất bọt này có sức công phá gấp 7 lần TNT.

Cách đây 3 năm, tại phòng thí nghiệm ở Munich, người ta chỉ tìm hiểu tính phản quang của bọt Si. Để tránh hiện tượng oxi hóa, mẫu thử được đặt trong môi trường chân không, sau đó người ta hạ thấp nhiệt độ xuống –1800C. Nhưng do một sự rò rỉ, oxi lọt vào bên trong và ngay lập tức chuyển thành thể lỏng bám lên trên bề mặt bọt Si tạo ra một chuỗi phản ứng hóa học dẫn đến sự bùng cháy. “Đó là một tiếng nổ long trời lở đất. Thoạt tiên chúng tôi không làm gì cả, may mà lúc đó không có ai trong phòng thí nghiệm” – Kovalev kể lại.


Sau khi phát hiện thủ phạm chính của vụ nổ là bọt Si, nhóm các nhà khoa học đã lập lại thí nghiệm trên nhiều lần. Theo Kovalev, mẫu thử Si sở dĩ có khả năng bùng phát mạnh như vậy vì hai nguyên nhân: Thứ nhất nhờ cấu trúc “bọt” nên nó có bề mặt tiếp xúc cực rộng, thứ hai ở môi trường nhiệt độ -1800C, oxi hóa lỏng nên khả năng tiếp xúc với bề mặt của bọt Si tốt hơn và toàn diện hơn oxi ở thể khí. Vì vậy chỉ trong 1 phần triệu giây, mẫu vật có thể bị đốt cháy hoàn toàn giải phóng ra năng lượng vô cùng lớn.

“Bọt Si hoàn toàn không nguy hiểm, để có thể bùng nổ phải có những điều kiện đặc biệt nên nó rất an toàn trong điều kiện thường” – Kovalev nói.

Hiện giới khoa học đã công nhận kết quả của Kovalev. Tuy nhiên làm thế nào để sử dụng nguồn năng lượng tiềm ẩn trong Si lại là cả một vấn đề. Nhà vật lý Leigh Canham (Mỹ) đã thành lập một phòng thí nghiệm riêng để nghiên cứu chất nổ theo gương Alfred Nobel. Mới đây trên tờ Scientist, ông tuyên bố rằng tương lai sẽ có nhiều vệ tinh chạy bằng Si. Tuy nhiên các đồng nghiệp tỏ ra nghi ngờ giấc mơ này của ông. Họ thừa nhận rằng, trong đám bọt Si có rất nhiều năng lượng nhưng để giải phóng nó người ta cần nhiệt độ là – 1800C. Mà điều này hoàn toàn không đơn giản khi đưa vào thực tế
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"
Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Giải đáp Hóa Học (08/03 - 15/03)

  • Chuyên mục: HÓA VÔ CƠ – HÓA HỮU CƠ

Câu hỏi: Nếu trong phòng thí nghiệm không có sẵn isoamyl acetat, thì ta phải điều chế nó từ cặp chất nào sau đây ?
A. Isoamyl ancol và axit acetic
B. Isobutyl ancol và axit acetic
C. Propanol và axit isobutyric
D. Etanol và axit isopentanoic

Đáp án: A. Isoamyl ancol và axit acetic
  • Chuyên mục: ÔN LUYỆN THI THPTQG 2020
Đáp án 5 câu trắc nghiệm về phản ứng tráng bạc của Glucozo
1D, 2D, 3D, 4B, 5C.
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email".
Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất.
Share:

Thí nghiệm mạ điện bằng phương pháp điện phân


Nguồn: Kênh Youtube Vui Khoa Học
------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:




Share:

Phản ứng tráng bạc của Glucozo



* Đáp án: 1D, 2D, 3D, 4B, 5C
---------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"
Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất.
Share:


Share:

Tìm hiểu về vật liệu composite, ứng dụng của loại vật liệu này trong thực tế đời sống hiện nay và trong tương lai


Vật liệu composite, còn gọi là Vật liệu tổng hợp, Vật liệu compozit,hay composite là vật liệu tổng hợp từ hai hay nhiều vật liệu khác nhau tạo nên vật liệu mới có tính chất vượt trội hơn hẳn so với các vật liệu ban đầu, khi những vật liệu này làm việc riêng rẽ.

Mời các bạn xem video phóng sự được thực hiển bởi công ty cổ phần dầu tư và truyền thông HK Việt Nam để hiểu rõ hơn về loại vật liệu này cũng như những ứng dụng của nó trong thực tế đời sống hiện nay và triển vọng trong tương lai



------------------------------------------------------------------------------------
Fanpage HÓA HỌC: www.facebook.com/mgchemistry17
Để nhận các bài đăng qua email các bạn vui lòng điền email của mình vào mục "Đăng kí nhận bài qua email"

Nếu các bạn có câu hỏi hay yêu cầu nào thì các bạn hãy điền Tên, Email, Nội dung câu hỏi hay yêu cầu của các bạn vào mục liên hệ, chúng tôi sẽ phản hồi các bạn trong thời gian sớm nhất
Share:

Bài đăng phổ biến

Bản quyền thuộc HÓA HỌC. Được tạo bởi Blogger.

Fanpage HÓA HỌC

Fanpage HÓA HỌC
Nhấp vào hình ảnh để chuyển đến trang Fanpage

Liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Bài viết gần đây

Các Trang